Sắt - Thứ kim loại nguy hiểm chết người

Sắt - Thứ kim loại nguy hiểm chết người

sắt nguôn tố lợi hay hại, ảnh hưởng của sắt đến sức khỏe

Tin mới
Đối tác
  • Video trái 2
  • Video trái 3
  • Video trái 1
Hỗ trợ trực tuyến
KHU VỰC PHÍA BẮC
Phòng kinh doanh
0908.095.936
Hỗ trợ kỹ thuật
Trưởng phòng kỹ thuật
0903.100.782
Bảo Hành Sản Phẩm
KHU VỰC TÂY NGHUYÊN
Phòng kinh doanh
KHU MIỀN TRUNG
Phòng kinh doanh
0908.091.736
KHU VỰC PHÍA NAM
Phòng kinh doanh
Video
Thống kê truy cập

Sắt - Thứ kim loại nguy hiểm chết người

Sắt - Thứ kim loại nguy hiểm chết người
Sắt rất cần thiết, nhưng không an toàn Sắt là một nhân tố thiếu yếu bao gồm nhiều chức năng sinh lý quan trọng. Ở Bắc Mỹ, hàng trăm nghìn người, chủ yếu là phụ nữ trong độ tuổi hành kinh, bị “bệnh thiếu máu”. Sắt, cũng giống như chì, catmi, thuỷ ngân, nhôm, và mangan, là chất luỹ tích. Việc không thể bài tiết sắt là vấn đề nghiêm trọng hàng đầu – chúng ta chỉ có thể bài tiết khoảng 1,2mg một ngày bất kể hấp thụ nhiều hay ít. Một khi sắt đã được hấp thụ hơn lượng cần thiết, rất khó để loại nó ra khỏi cơ thể. Phần lớn lượng dư thừa sẽ được tích trữ trong gan ở dạng phức hợp sắt_protein là ferritin. Khi ferritin bão hoà, một phức hợp sắt khác là hemosiderin được giải phóng và có thể dẫn đến hàng loạt ảnh hưởng bất lợi lên các tế bào gan. Thức ăn chứa quá nhiều sắt không được hấp thụ hết có thể giải phóng các gốc oxy trong ruột, gây ung thư ruột thừa. Lượng sắt tiêu thụ vượt quá lượng hấp thụ được vận chuyển qua ruột và bài tiết qua phân. Chất sắt này có thể rất nguy hiểm vì nó có thể tồn tại ở dạng tự do và giải phóng các gốc ôxy phá huỷ ruột gây ung thư ruột thừa. Bệnh ung thư ruột thừa thí nghiệm trên các loài vật trong phòng thí nghiệm đều cho thấy sự dư thừa sắt rất lớn. Nhiều chất trong thức ăn có thể ngăn chặn sự phá hoại này - đặc biệt là phyates có nhiều trong rau.

Sắt rất cần thiết, nhưng không an toàn

Sắt là một nhân tố thiếu yếu bao gồm nhiều chức năng sinh lý quan trọng. Ở Bắc Mỹ, hàng trăm nghìn người, chủ yếu là phụ nữ trong độ tuổi hành kinh, bị “bệnh thiếu máu”. Mặc dù không thường gây chết người, thiếu máu vẫn bị coi là một trong những nguyên nhân gây ốm đau và suy nhược ở hầu hết phụ nữ Bắc Mĩ.
Sắt từng là một trong số ít những kim loại thiết yếu được phát hiện. Người ta cho rằng sắt là nhân tố quyết định đến việc vận chuyển oxi trong máu. Nó là kim loại trung tâm trong quá trình vận chuyển khí oxy của nhóm nguyên tố chứa sắt. Oxy liên kết với ion sắt và được vận chuyển trong cấu trúc này đến các bộ phận khác của cơ thể ở đó nó được giải phóng phục vụ cho quá trình oxy hoá. Vì vậy, thiếu ion sắt sẽ dẫn đến sự đình trệ của chuỗi phản ứng oxy hoá, tạo điều kiện cho “bệnh thiếu máu” phát triển.
Vì thiếu máu là bệnh thường thấy trong dân cư (đặc biệt là phụ nữ ở tuổi hành kinh), các tổ chức sức khoẻ cộng đồng đã ca ngợi một cách thái quá việc thêm sắt vào hầu hết các thức ăn phổ biến, bao gồm thức ăn dinh dưỡng bổ sung, bột mì, bánh mì, mỳ ốm, ngũ cốc điểm tâm. Ngoài ra, bệnh thiếu máu vẫn thường thấy trong những người được cho là cần trợ giúp qua các phương pháp tăng cường thêm.
Bên cạnh chức năng quan trọng là vận chuyển oxy, sắt còn là nhân tố then chốt trong nhiều enzym, ở đó nó kích thích quá trình chuyển hoá năng lượng thông thường. Sắt cũng rất quan trọng trong các nhóm sắt lưu huỳnh giúp vận chuyển các electron trong ti thể. Mặc dù vậy, việc thiếu sắt không được cho là ảnh hưởng đến bậc của các nhóm sắt – lưu huỳnh hoặc các enzym, trừ phi thiếu hụt rất trầm trọng.
Mặc dù cần thiết cho cuộc sống, sắt lại vô cùng độc hại. Các kim loại có nồng độ độc hại cao phổ biến đã được công bố gồm chì, thuỷ ngân, catmi, mangan, nhôm và asen. Tuy nhiên, sắt lại là thủ phạm của nhiều bệnh tật và chết chóc hơn tất cả các kim loại trên cộng lại! Chúng ta đã bị cuốn theo luồng suy nghĩ rằng sắt là một thứ gì đó khác với những kim loại khác, đơn giản vì nó thiết yếu.

Sự cân bằng sắt trong cơ thể chúng ta

Lượng sắt khuyến cáo trong 1 ngày đối với phụ nữ từ 19 đến 50 tuổi là 18mg/ngày; phụ nữ mang thai là 27mg/ngày, và trong thời kỳ cho con bú là 10mg/ngày. Đối với người trưởng thành ngoài những trường hợp trên là 8mg/ngày. Lượng tăng cho phép đối với chế độ ăn kiêng với sắt là 45mg/ngày.
Theo Uỷ ban Thức ăn và Dinh dưỡng, một phần hai lượng sắt được đưa vào cơ thể có nguồn gốc từ các thức ăn bổ sung, mặc dù số liệu này có thể vẫn chưa thực sự chính xác. Nhiều loại ngũ cốc chứa 24mg sắt trong 1 chén thức ăn. Đa số các sản phẩm ngũ cốc có lượng sắt bổ sung khác nhau – chủ yếu bao gồm các loại bột mì, mì ống, bánh mì, ngũ cốc. Những chất sắt bổ sung được bán không theo đơn thuốc của bác sĩ thường chứa từ 15mg đến khoảng 60mg sắt theo hướng dẫn sử dụng trên nhãn. Rất dễ hiểu hàng triệu người Bắc Mĩ có thể tiêu thụ sắt nhiều hơn lượng cho phép trong một ngày như thế nào. 
Tại sao nhiều công ty được phép tăng cường chất dinh dưỡng trong thức ăn nhiều hơn lượng khuyến cáo? Những quy định gì đã được áp dụng nhằm điều chỉnh lượng sắt trong thức ăn hay thức ăn bổ sung? Những công ty cung cấp thức ăn bổ sung cũng phân tích chúng sau khi sản xuất để xác định xem liệu có phải họ đã đưa vào đúng lượng sắt cần thiết hay không? 
Những nghiên cứu về sự cân bằng sắt trong cơ thể người đã chứng minh rằng chúng ta thường hấp thụ khoảng 15% lượng sắt lấy vào. Một người theo chế độ ăn kiêng hàng ngày chứa độ chừng 15mg sắt sẽ hấp thụ từ 1 – 2mg. Một cách tương tự, khoảng 1 – 2 mg sắt bài tiết mỗi ngày. Trẻ em được cho là hấp thụ ít sắt hơn người lớn - khoảng 10%. Tỷ lệ này ở phụ nữ mang thai cao hơn – 17%.
Mặc dù sắt chỉ được hấp thụ một phần nhỏ, nhưng lại có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quá trình này. Chẳng hạn như, ion sắt rất dễ được hấp thụ. Nhưng nếu hấp thụ nhiều sẽ dễ phát triển bệnh ung thư vú. Tương tự, việc hấp thu sắt có thể được tăng đáng kể khi nó ở dạng ion Fe2+ hơn là khi nó nằm trong các thức ăn bổ sung có chứa sắt kết hợp với vitamin C. Những loại thực phẩm bổ sung chứa nhiều hơn lượng cho phép sử dụng lại được bày bán tự do bất chấp tác hại hiển hiện đối với sức khoẻ con người. Ví dụ như Vitron-C chứa 60mg sắt trong 1 viên con nhộng như khuyến cáo. Những loại thức ăn này rất giống loại thức ăn “dinh dưỡng” nguy hiểm nhất từng được biết đến. 

Sắt, cũng giống như chì, catmi, thuỷ ngân, nhôm, và mangan, là chất luỹ tích.

Việc không thể bài tiết sắt là vấn đề nghiêm trọng hàng đầu – chúng ta chỉ có thể bài tiết khoảng 1,2mg một ngày bất kể hấp thụ nhiều hay ít. Một khi sắt đã được hấp thụ hơn lượng cần thiết, rất khó để loại nó ra khỏi cơ thể. Phần lớn lượng dư thừa sẽ được tích trữ trong gan ở dạng phức hợp sắt_protein là ferritin. Khi ferritin bão hoà, một phức hợp sắt khác là hemosiderin được giải phóng và có thể dẫn đến hàng loạt ảnh hưởng bất lợi lên các tế bào gan. 
Thức ăn chứa quá nhiều sắt không được hấp thụ hết có thể giải phóng các gốc oxy trong ruột, gây ung thư ruột thừa. 
Lượng sắt tiêu thụ vượt quá lượng hấp thụ được vận chuyển qua ruột và bài tiết qua phân. Chất sắt này có thể rất nguy hiểm vì nó có thể tồn tại ở dạng tự do và giải phóng các gốc ôxy phá huỷ ruột gây ung thư ruột thừa. Bệnh ung thư ruột thừa thí nghiệm trên các loài vật trong phòng thí nghiệm đều cho thấy sự dư thừa sắt rất lớn. Nhiều chất trong thức ăn có thể ngăn chặn sự phá hoại này - đặc biệt là phyates có nhiều trong rau. 

Sự tăng cường sắt trong thức ăn - một thí nghiệm sai lầm với kết quả tai hại

Sắt luôn có trong hầu hết các thức ăn ngũ cốc. Vào thập kỷ 90, Hội đồng Thức ăn và Dinh dưỡng Mỹ, Viện Dược phẩm đã nghĩ đến việc tranh cãi về sự tăng lượng sắt trong thức ăn. Nhiều nhà dinh dưỡng từng đề nghị tăng sắt với lý do “thiếu máu” mặc dù chương trình tăng sắt đã được khởi xướng trong những năm đầu thập kỷ 40.
Vấn đề đã sáng tỏ thậm chí chương trình đó cuối cùng thất bại. Mục đích của nó này là làm giảm hoặc ít nhất là khống chế “bệnh thiếu máu” thường thấy ở phụ tiền mãn kinh. Không may rằng, việc thêm sắt vào trong thức ăn đã không thành công. “Bệnh thiếu máu” vẫn xuất hiện ở nhiều địa phương trong năm 1990. Mặc dù nhận thất bại, vài thành viên trong Hội đồng Thức ăn và Dinh dưỡng vấn mong muốn tăng lượng sắt trong thức ăn.
Sự thật đơn giản là “bệnh thiếu máu” không phải do thiếu chất dinh dưỡng. Có hàng loạt các nguyên nhân khác nhau gây ra biểu hiện thường thấy của căn bệnh này. “Thiếu máu kinh niên”, dù cho dạng nguyên thuỷ như thế nào, thì đó vẫn chỉ là vấn đề về thuốc, chứ không phải về chất dinh dưỡng.
Nhiều nhà độc học nghiên cứu về sắt bày tỏ quan điểm với Hội đồng Thức ăn và Dinh dưỡng rằng sắt nên được xử lý giống như các kim loại khác tích tụ trong cơ thể. Họ cho rằng chúng ta nên giảm tối đa lượng sắt đưa vào, ngoại trừ trong các trường hợp thực sự cần thiết. Mặt khác, sắt có thể gây ra tác hại nghiêm trọng tới tất cả các bộ phận trong cơ thể. Sau đây là một vài lời khuyên của các chuyên gia:
1. Randall B. Lauffer, Tiến sỹ triết học, Trường Đại học Dược Havard, cảnh báo Hội đồng Thức ăn và Dinh dưỡng rằng việc thêm sắt có thể là nguyên nhân chính của bệnh động mạch vành. (Ông là biên tập viên của cuốn sách đầu tiên nghiên cứu chất độc sắt (Sắt và Bệnh ở người, Báo CRC, 1992).
2. Tiến sĩ Sullivan, Bác sỹ y khoa, Bộ môn bệnh lý học, Đại học thuộc trường Cao đẳng dược Florida, đưa ra các bằng chứng trực tiếp các lớp sắt lắng đọng lại trong tim, và chỉ ra rằng việc tích luỹ sắt sẽ khiến dễ chúng ta mắc bệnh tim mạch hơn tăng nồng độ cholesterol trong máu. 
3. Weinberg, Tiến sỹ triết học, Đại học Indiana cũng cảnh báo rằng có một sự liên hệ giữa sắt và ung thư gan. Ông đã chứng minh được rằng sắt là chất gây ung thư đối với các động vật trong phòng thí nghiệm, và cũng là nguyên nhân gây ra bệnh ung thư gan ở người. 
4. Tiến sĩ William Crosby, Trưởng khoa huyết học thuộc Trung tâm Ung thư Chapman ở Joplin, Missouri, lập luận rằng Delaney Amendment năm 1958 cấm bổ sung bất kỳ hợp chất hoá học nào trong thức ăn vì việc đó có thể dẫn đến ung thư ở động vật. Ông còn cho rằng nên giới hạn lượng sắt tăng cường trong thức ăn vì nó là gây ra ung thư ở cả động vật thí nghiệm và con người.
5. Baruch S. Blumberg, Tiến sỹ Y khoa, Tiến sỹ Triết học, Giải Nobel Y học, đã dành nhiều năm nghiên cứu về mối quan hệ giữa virut viêm gan B và sắt trong gan. Ông cảnh báo rằng sắt lưu lại trong gan là nguồn thức ăn cho virut viêm gan B, và điều này có thể giải thích tại sao phạm vi ảnh hưởng của bệnh ung thư gan lại bao gồm cả những người bị nhiễm virut viêm gan B.
Vậy thì Hội đồng Thức ăn và Dinh dưỡng đã trả lời phóng viên ra sao về độ độc hại của sắt?
Vì “bệnh thiếu máu” ở phụ nữ tiền mãn kinh không còn được kiểm soát bởi chương trình tăng hàm lượng sắt, và vì tai hoạ gây ra bởi sự thừa mứa sắt được chứng minh rõ ràng qua các văn bản, dường như không còn lý lẽ gì để tiếp tục đưa thêm sắt vào thức ăn. Mặc dù vậy, Hội đồng Thức ăn và Dinh đưỡng về cơ bản vẫn lờ đi thông tin về độ độc tố của sắt, và tất cả thức ăn ngũ cốc bày bán ở Bắc Mỹ tiếp tục được “thêm” sắt.
Hội đồng Thức ăn và Dinh dưỡng, cùng với Viện Dược phẩm, chịu trách nhiệm trực tiếp cho chương trình tăng hàm lượng sắt, đã đưa ra 2 báo cáo chuyên môn về việc này.

1. Bệnh thiếu máu: Lời khuyến cáo tới Chương trình Ngăn chặn, Phát hiện và Quản lý Trẻ em, Phụ nữ mang thai Mỹ. Hội đồng Chương trình Ngăn chặn, Phát hiện và Quản lý Bệnh thiếu máu ở Trẻ em, Phụ nữ mang thai Mỹ. Robert Earl và Catherine E. Woteki, Biên tập viên. Học viện Báo chí Quốc gia, Washington, 1993.

2. Danh mục tài liệu chất bổ sung trong thức ăn: Cho Vitamin A, Vitamin K, Asen, Bo, Crom, Đồng, Iốt, Sắt, Mangan, Molypđen, Niken, Silic, vanađi, và Kém. Học viện Báo chí Quốc gia, Washington, 2001.

Đặc tính nguy hiểm nhất của sắt là nó bị hút, và lắng đọng lại trong các mô đã bị tổn thương

Trong Danh mục tài liệu chất bổ sung trong thức ăn (2001), Hội đồng Thức ăn và Dinh dưỡng đã thừa nhận độ nguy hiểm đã tăng đối với những tế bào ung thư gan ở những người mắc bệnh rối loạn trao đổi sắt hemochromatosis do di truyền, và xem xét lại một vài bằng chứng liên kết giữa sự thừa sắt với bệnh động mạch vành. Mặc dù vậy, không hề có bất kỳ đề cập nào đến ảnh hưởng của sắt đối với sự thoái hoá nơtron gây ra bởi sắt lắng đọng trong não. Thông tin liên kết giữa sự tích tụ sắt trong não với bệnh Parkinson, Alzheimei và các bệnh liên quan đến não khác là rất thuyết phục. Tại sao những người chịu trách nhiệm cho sức khoẻ cộng đồng có thể phớt lờ nó được?

Danh mục tài liệu chất bổ sung trong thức ăn 2001: Tính chất nguy hiểm của sắt

Hội đồng Thức ăn và dinh dưỡng đã đưa ra lời phát biểu dưới đây trong bản báo cáo mang tên “Đặc tính nguy hiểm” khẳng định rằng những mối hiểm nguy có thể xảy ra về tim mạch và gan khiến họ “khôn ngoan khi khuyến cáo đàn ông và phụ nữ hậu mãn kinh tránh bổ sung sắt và thức ăn có hàm lượng chất sung cao”. Mặc dù vậy, vẫn không có bất kỳ sự nhắc nhở nào đến những mối nguy hiểm cho hệ thần kinh. Ngoài ra, kể từ khi tất cả các loại ngũ cốc tiếp tục được tăng lên với những liều lượng sắt khác nhau, Hội đồng cũng không đưa ra bất kỳ khuyến cáo nào cho người tiêu dùng để tránh những loại thức ăn này, cũng như không có bất cứ sự thử nghiệm nào để thông cáo tới cộng đồng rằng họ có thể bị hại bởi chúng.

Sự phát sinh những gốc tự do - Nền tảng hoá sinh cơ bản của độ độc của sắt.

Trong những điều kiện sống khoẻ mạnh, sắt liên kết chặt chẽ với các hợp chất. Mối liên kết này được cho là có càng. Liên kết có càng ngăn sắt khỏi chu trình oxy hoá. Hemoglobin và myoglobin là hai phức hợp protein có số lượng nhiều nhất trong cơ thể động vật có vú, chúng cũng là thành phần trong màng tế bào và các enzym sử dụng sắt. Thêm vào đó, sắt cũng xuất hiện ở các nhóm sắt – sunfua quan trọng trong các phản ứng chuyển hoá electron.
Mặc dù vậy, khi sắt quá dư thừa, nó tỏ ra de dọa các tế bào và các mô. Sắt tồn tại trong các hợp chất sắt II hoặc sắt III. Sắt tự do có thể bị khử từ sắt II lên sắt III, và bị oxi hoá từ sắt III xuống sắt II. Quá trình này là chu trình oxi hoá - khử. Khi sắt bị oxi hoá, các gốc oxy được sinh ra. Kết quả tạo ra các gốc peoxit và hydroxin phá huỷ cấu trúc tế bào. 
Thừa sắt có thể gây ra hoặc trầm trọng thêm các bệnh kinh niên
Sắt có thể tích tụ ở dạng tự do trong bất kỳ mô cơ thể nào trong những điều kiện quá tải sắt. Điều này giải thích tại sao sự thừa sắt lại dẫn đến lượng bệnh tật nhiều và khác nhau đến như vậy.
Đặc tính nguy hiểm nhất của sắt là nó bị hút và lắng đọng lại trong các tế bào đã bị phá huỷ. Vì vậy, những tập hợp rối loạn của protein trong tế bào thần kinh ở bệnh Alzheimer, chất đen ở trung não trong bệnh Parkinson, những mảng xơ vữa của bệnh động mạch vành, các khớp bị viêm của bệnh viêm khớp, các tế bào bao quanh tuỷ của người mắc bệnh đái đường nặng, tất cả đều tăng nồng độ sắt tự do. Chúng ta không thể biết được liệu sắt là nguồn gốc phát sinh bệnh hay chính các mô nhiễm bệnh hút sắt rồi sau đó sắt mới khiến bệnh trở nên trầm trọng hơn. Nhưng dù là do nguyên nhân nào, sắt tự do trong mô bất kỳ cơ thể nào cũng đều nguy hiểm.

Có một tuyên bố trước đó rằng gần như mỗi người Bắc Mĩ đều cho thấy vài biểu hiện của bệnh nhiễm độc sắt theo tuổi tác tăng dần.

1. Sự suy thoái hệ thần kinh: Bệnh Parkinson và Alzheimer
a. Bộ não là mục tiêu chính của sự thừa sắt.
b. Sự tích luỹ sắt trong mô não hoặc gây ra, hoặc đóng góp vào việc sinh ra bệnh về thần kinh như Parkinson và Alzheimer.
2. Ung thư: Sắt là chất gây ung thư rất mạnh
a. Có đầy đủ chứng cứ chứng minh thừa sắt gây ra bệnh ung thư gan.
b. Nồng độ sắt cao dẫn đến ung thư vú.
c. Động vật được cho ăn thức ăn thừa sắt sẽ phát sinh ung thư ruột thừa, đây được cho là kết quả của các thế hệ gốc tự do gây ra bởi sắt không bị hút.
3. Bệnh tim
a. Sắt dư thừa lắng đọng trong tim và các động mạch.
b. Sắt tự do tìm thấy trong tim và các động mạch có thể phá huỷ động mạch.
4. Bệnh đái đường
a. Trong các hemochromatosis di truyền, sắt thừa lắng đọng trong lá lách ở đó nó phá vỡ sự bài tiết insulin và gây ra bệnh đái đường nghiêm trọng ở người lớn.
b. Người ta tìm thấy những lớp sắt lắng đọng trong các tế bào tụy ở người có bệnh đái đường tuýp 2 (hay còn gọi là bệnh đái đường dạng adult-onset).
5. Bệnh viêm khớp/ Chứng viêm khớp: Sắt tồn tại ở trạng thái tự do trong các tế bào khớp viêm.

Ý kiến chuyên gia

Khoá đào tạo đầu tiên của tôi là ở Khoa Hoá Sinh Dinh dưỡng. Tôi đã làm việc trong gần 10 năm trong phòng thí nghiệm của thầy Roger J Williams, người đã phát hiện ra axit pantothenic và cũng là người đầu tiên kết tinh axit folic đồng thời đặt tên cho nó. Học viện Hoá Sinh của Tổ chức Clayton nơi tôi làm việc rất nổi tiếng trong việc chịu trách nhiệm cho công trình nghiên cứu của nhiều vitamin B và các biến thể của chúng hơn bất kỳ phòng thí nghiệm nào khác.
Trong khoảng thời gian tôi ngừng làm việc ở Clayton, khoa độc dược kim loại ngày càng trở nên quan trọng hơn. Đứng trên phương diện lịch sử, quãng thời gian năm 1950 đến năm 2007 có thể được coi là Kỷ nguyên của Độc dược Kim loại. Sự độc hại của thuỷ ngân được báo cáo ở Vịnh Minimata, Nhật Bản vào năm 1953, và, trong suốt thập kỷ 60 ở Quebec, Canada, toàn bộ quốc gia Ojibwe trở thành nạn nhân cho những ảnh hưởng chết người của thuỷ ngân hữu cơ. Cùng lúc đó, chất độc catmi gây ra bệnh Itai-Itai cũng là bệnh địa phương ở nhiều vùng thuộc Nhật Bản, và người ta cũng chứng minh được mangan là nguyên nhân gây ra một loại teo cơ xơ cứng bên.
Năm 1980, tôi quyết định quay lại 1 viện môi trường nơi tôi có thể theo đuổi niềm đam mê với độc dược kim loại, và 9 năm sau, tôi nhận bằng Tiến sĩ Triết học trong ngành Độc dược Hoá Sinh của trường Đại học Simon Fraser ở British Columbia. Cùng thời gian đó, thôi được mời tham gia nhóm nghiên cứu Hemochromatosis British Columbia, nơi tôi trực tiếp học về những nguy hiểm của sắt khi được hấp thụ.
Trong 18 năm gần đây, tôi đã tích luỹ được khá nhiều thông tin khoa học cái mà cho ta biết sự thừa sắt có thể là nguyên nhân của nhiều bệnh tật và cái chết ở Bắc Mĩ hơn bất kỳ tác động nào khác, trừ việc hút thuốc lá.

Kết luận

Bài báo tiếp theo trong loạt bài này sẽ đưa ra nhiều thông tin hơn trong đó nói lên lượng sắt hiện có trong các thức ăn dinh dưỡng bổ sung. Việc chúng ta cần làm sẽ được đưa ra các công tycần loại bỏ sắt ngay trong quá trình sản xuất bằng các bộ lọc nam châm hay may tuyển từ, hãy để chúng tôi đóng góp một phần vào sản phẩm tạo nên danh tiêng của ban !. Người tiêu dùng hãy chọn các nhà sản xuát uy tín có những giấy chứng nhận kiểm tra an toàn.